Sống - Tự do - Hạnh phúc

prayer handsCó những lời tuyên ngôn đã đi vào lịch sử của những dân tộc và đất nước, vì ở đâu nó cũng đã rung động lòng người với sức mạnh giống nhau. Khi chúng được vang lên trên quảng trường Ba-đình trong bản tuyên ngôn độc lập, thì cũng khiến hàng triệu con tim đồng thanh hưởng ứng. Vì những lời đó phản ánh những khát khao chung, hay cũng có thể nói là những nhu cầu sâu thẳm, những ước mơ chung của mỗi một con người sống trên trái đất. Những lời đó khẳng định rằng mỗi người phải được quyền sống, được quyền hưởng tự do, và quyền mưu cầu hạnh phúc.

 

"Hỡi đồng bào cả nước,

Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.

Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm một nghìn bảy trăm bảy mươi sáu của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do."

 

Hãy dừng lại, để lắng nghe, xem những từ này vang lên trong lòng của bạn như thế nào, bởi vì con người thế hệ chúng ta ngày nay cũng không khác chút nào, vẫn mong mỏi khát khao chính những điều như vậy. Ta là con người, và ta khao khát được SỐNG, được TỰ DO, và được HẠNH PHÚC.

 

Xã hội nào cũng bảo vệ quyền được sống cho mỗi con người, cũng bảo vệ quyền tự do cho mỗi con người. Và xã hội nào cũng bảo vệ quyền con người được làm việc tìm kiếm xây dựng cho đời sống mình hạnh phúc.

 

Rõ ràng những điều này không phải là mới với bất cứ thế hệ con người nào đã từng sinh ra, hiện đang sống, và sẽ còn sinh ra trên đất này nữa. Vậy thì phải chăng là những điều đó, những giá trị bất di bất dịch đối với loài người chúng ta nói trên đó, đã được truyền lại từ tổ tiên, qua dòng máu, qua di truyền, chứ không đơn thuần là kết quả của nền văn minh hoặc là giáo dục. Ai sinh ra cũng có sẵn trong lòng mình những khát khao đó rồi. Tổ tiên chúng ta trong thời họ sống, cũng từng mong mỏi khát khao và lao động và chiến đấu không ngừng vì quyền được sống, được tự do, và được hạnh phúc.

 

Nếu chúng ta suy xét tìm kiếm tiếp xa hơn nữa, để đi ngược dòng lịch sử, trở về với tận cội nguồn của nhân loại, chắc chắn chúng ta sẽ tìm thấy những khát khao này cũng có sẵn trong những con người đầu tiên. Và chúng cũng phải được có sẵn trong máu thịt, trong tiềm thức của họ. Có thể nói loài người sinh ra là đã có như vậy rồi. Đã có sẵn một nhận thức nội tâm là mình sinh ra để sống, để tự do, và để được hạnh phúc.

 

Đó chính là điều chúng ta đọc thấy trong Kinh thánh, trong câu chuyện lịch sử về lúc ban đầu Đức Chúa Trời đã tạo dựng nên con người và ban cho họ được như thế nào trong nơi ở đầu tiên của họ, tức là nơi vườn địa đàng tên gọi là Ê-đen. Những con người đầu tiên được Chúa tạo dựng ra tự nhiên đã có được gì, như đầu bài viết có trích dẫn "Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được":

 

Họ được sống

Sang The Ky 2:7  Giê-hô-va Đức Chúa Trời bèn lấy bụi đất nắn nên hình người, hà sanh khí vào lỗ mũi; thì người trở nên một loài sanh linh.

 

Chúng ta đều từ đất mà ra, và những con người đang sống hiện nay đều biết đến một ngày mình sẽ trở về với bụi đất. Nhưng chúng ta vẫn hết sức bấu víu bám lấy cuộc sống này, vì sao?

 

Câu trả lời hiển nhiên là vì cuộc sống này quá quí giá và xứng đáng để mà sống. Từ bụi đất, rồi lại về bụi đất, chẳng qua giống như cái bình bằng đất sét mà thôi, xét về giá trị vật chất chẳng có gì nhiều (nếu không nói là chẳng có giá trị gì). Vậy thì cái giá trị thật chính là cái gì đựng trong cái bình bằng đất sét đó. Chính là LINH HỒN chúng ta! Khi còn có nó trong bình đất sét kia, thì ta là loài sanh linh, ta sống động, ta đầy cảm xúc, và ta tồn tại. (Như có một nhà triết học nổi tiếng đã nhận định: “Tôi tư duy, tức là tôi tồn tại”).

 

Linh hồn đó không phải bố mẹ chúng ta đẻ ra. Linh hồn đó đến từ Đức Chúa Trời. Cha mẹ chúng ta đẻ ra chúng ta dựa trên những quy luật của sinh học, nhưng chính Đức Chúa Trời là Đấng đã hà hơi sống của Ngài, để chúng ta được thành một con người, một loài sanh linh. Người Việt chúng ta hay nói câu: “Cha mẹ sinh con, Trời sinh tính”. Vì thế nên mõi người chúng ta phải biết ơn Thượng đế, Đấng đã ban cho chúng ta có linh hồn và nhờ đó chúng ta được sống.

 

Chính đó là điều khiến loài người khác hẳn với loài vật. Bản năng sống còn vốn có ở mọi loài sinh vật, ở trong con người giá trị sự sống được tôn lên một tầm cao hoàn toàn khác, vì loài thú vật có thể giết nhau để tồn tại, còn trong tiềm thức máu thịt của con người, chúng ta tôn trọng và bảo vệ sự sống cho nhau.

 

Nhưng, loài người chúng ta khác biệt không chỉ một khao khát sống, mà còn bởi một khát khao mãnh liệt hơn nữa. Đó là quyền được tự do. Tự do là cái gắn liền với mỗi một con người, khiến chúng ta thật là cá nhân đặc biệt có một không hai.

 

Thậm chí tự do có thể hy sinh sự sống mình vì lý tưởng, vì những điều tốt lành, vì những người khác. Đó là ý chí tự do lựa chọn mà chỉ có con người mới có. Và chúng ta cũng thấy, ngay từ buổi ban đầu trong vườn Ê-đen, con người ngay từ khi được nắn lên và nhận cuộc sống, đã nhận nó cùng với quyền tự do của cá nhân mình.

 

Họ được tự do

Sang The Ky 2:16  Rồi, Giê-hô-va Đức Chúa Trời phán dạy rằng: Ngươi được tự do ăn hoa quả các thứ cây trong vườn; 17  nhưng về cây biết điều thiện và điều ác thì chớ hề ăn đến; vì một mai ngươi ăn chắc sẽ chết.

 

Có thể ai đó ngày hôm nay đã hơi mệt mỏi với những khẩu hiệu về sự tự do. Thực tế là đôi lúc người ta có lạm dụng những từ ngữ thiêng liêng cao cả này, đến nỗi khiến nó bị giảm giá trị trong người nghe, người đọc. Nhưng, qua câu Kinh thánh nói trên, chúng ta có thể thấy thực sự Đức Chúa Trời quý trọng sự tự do của con người như thế nào. Ngay từ khi Ngài vừa nắn lên họ, Ngài đã tặng cho họ một món quà cùng với sự sống là quyền tự do cá nhân.

 

Bạn thấy không, Đức Chúa Trời không làm chúng ta thành những người máy cứng nhắc và giới hạn chỉ biết làm theo lệnh, Ngài không hề ràng buộc những con người rất yêu quí của Ngài thậm chí trong cả quyền lựa chọn sự sống sự chết. Có phải là Chúa chỉ muốn điều tốt lành cho con cái Ngài, có phải là Chúa không hề muốn con người phải xa Ngài, phải sa vào tay ma quỉ, phải đớn đau, khổ cực, và phải chết? Vậy mà Chúa đã dành cho chúng ta một điều cao quí nhất, đặc biệt chỉ dành cho những cá nhân, những con người, đó là quyền tự do, có ý chí để lựa chọn và hành động.

 

Nhưng, một điều quan trọng nữa mà chúng ta thấy những con người đầu tiên (họ chính là đại diện cho cả loài người) đã được Đấng Tạo hóa ban cho một cuộc sống với chất lượng như thế nào. Vì những điều chúng ta đọc thấy về cuộc sống ban đầu mà con người có được, đó là cũng là mô hình kiểu mẫu về một cuộc sống có Đức Chúa Trời ở cùng, thật tương phản vô cùng rõ nét với những gì mắt chúng ta thấy trong cả thế gian ngày hôm nay,

 

Họ được hạnh phúc

Sang The Ky 2:9  Giê-hô-va Đức Chúa Trời khiến đất mọc lên các thứ cây đẹp mắt, và trái thì ăn ngon; giữa vườn lại có cây sự sống cùng cây biết điều thiện và điều ác.

10  Một con sông từ Ê-đen chảy ra đặng tưới vườn; rồi từ đó chia ra làm bốn ngả.

11  Tên ngả thứ nhất là Bi-sôn; ngả đó chảy quanh xứ Ha-vi-la, là nơi có vàng.

12  Vàng xứ nầy rất cao; đó lại có nhũ hương và bích ngọc.

13  Tên sông thứ nhì là Ghi-hôn, chảy quanh xứ Cu-sơ.

14  Tên sông thứ ba là Hi-đê-ke, chảy về phía đông bờ cõi A-si-ri. Còn sông thứ tư là sông Ơ-phơ-rát.

15  Giê-hô-va Đức Chúa Trời đem người ở vào cảnh vườn Ê-đen để trồng và giữ vườn.

 

Đây là một bức tranh cuộc sống lý tưởng, nơi mà thiên nhiên ưu đãi đời sống con người. Thiên nhiên tự phục tùng loài người, chứ họ chưa phải chiến đấu đổ xưong máu để chinh phục nó. Chưa có mưa, bão, giá buốt hoặc nắng cháy, chẳng có chỗ nào cho thiên tai.

 

Nếu bạn để ý kỹ khi đọc câu chuyện Kinh thánh chép lại về những ngày đầu tiên của lịch sử loài người, bạn sẽ nhận thấy một điều là thế gian ban đầu đó hoàn toàn chưa có đau khổ và bất hạnh. Ngày đó chưa có bệnh tật, thậm chí chưa có đau đớn khi sinh con. Chưa có chuyện phải làm lụng đổ mổ hôi trán mới có cái mà ăn, càng chưa có chuyện bị mất mát hoặc lấy mất thành quả lao động. Chưa hề có chuyện người này cai trị trên người khác, người đàn ông và đàn bà là bình đẳng và cùng sống trong sự hiểu biết yêu thương và tôn trọng lẫn nhau. Chưa có tranh chấp, chưa có chiến tranh, chưa hề đổ máu.

 

Tại sao loài người ngày nay lại hiểu mình có quyền được hạnh phúc? Và dù có sống ở bất kỳ đâu trên thế giới này, người ta đều mưu cầu hạnh phúc. Và nhu cầu kiếm tìm hạnh phúc có thể khiến con người rời xa quê hương đất nước nơi mình đã được sinh ra, thậm chí chịu hạn chế quyền lợi, hạn chế tự do, để mong đổi lấy một cơ hội tìm được những gì tốt đẹp hơn cho cuộc sống mình. Câu trả lời cũng đơn giản như hai trường hợp trước. Vì điều này cũng đã đi vào tiềm thức nội tâm, vào máu thịt của tổ tiên chúng ta, từ khi được nắn lên trong bàn tay Chúa và được đặt để sống giữa nơi vườn Ê-đen, thì con người ai nấy đều sinh ra với ước muốn mãnh liệt là để cuộc sống mình được hạnh phúc.

 

Thực tế là xã hội phát triển đi lên chính vì những con người không ngừng hướng lên hạnh phúc, khát khao và cống hiến để cuộc sống này được tốt đẹp lên. Các phát minh vĩ đại của khoa học nảy sinh ra từ đó. Và cũng giống như từ thời ban đầu, chúng ta thấy các bác học đều biết cảm ơn Đức Chúa Trời về những sự tỏ ra từ Ngài, đã giúp họ khám phá ra được phần nào những bí mật của thế giới này mà áp dụng được vào giúp cho đời sống cả nhân loại được tốt đẹp lên.

 

Như chúng ta đã thấy, khái niệm sống, tự do, hạnh phúc vốn được Đức Chúa Trời ban cho con người từ đầu, và quan trọng hơn cả là trong ý định ban đầu thì con người có thể có được cuộc sống với những khát khao được thỏa mãn đầy đủ khi và chỉ khi con người sống cùng với Đức Chúa Trời.

 

Trong vườn Ê-đen họ sống, họ tự do hái lá và trái cây sự sống để được sống mãi không bệnh tật và không già lão, vui sướng cùng thưởng thức mọi điều tốt lành từ cây quả, từ cảnh vườn, từ thiên nhiên, từ sông suối.

Trong vườn Ê-đen họ được thường xuyên gặp gỡ với Đức Chúa Trời, Đấng Tạo hóa, Đấng ban sự sống và ban phước lành.

 

Có thể ai đó sẽ có ý nghĩ rằng chuyện này giống như là chuyện cổ tích. Nhưng bạn ơi, nếu là chuyện cổ tích, thì vì sao mà không ai bảo ai, dân tộc nào cũng có những ý tưởng “cuộc sống cổ tích” giống nhau đến như vậy? Đó là vì ngày hôm nay mỗi một người trong số chúng ta từ khắp mọi dân tộc vẫn có y nguyên trong lòng mình những khát khao từ buổi khai thiên lập địa. Điều mà đối với chúng ta ngày nay giống như là không tưởng, vì quả thật nó đúng là không thể đối với con người sống đơn độc lẻ loi, nhưng với Đức Chúa Trời thì mọi sự đều được cả. Phải chăng chúng ta cho rằng những điều tốt đẹp nói trên là huyền thoại bởi vì những gì chúng ta thấy trong thực tế xung quanh không được đầy trọn tốt lành như trong thâm tâm chúng ta mong ước.

 

Người ta sống, cố gắng tận hưởng cuộc sống, chiến đấu vì sự sống mình. Nhưng rồi người ta ai cũng chết.

 

Người ta tìm kiếm, người ta mong ước, và người ta càng sống càng thấy những giới hạn của mình, chẳng ai thật sự được tự do, ai cũng phạm tội, và cuối đời chẳng ai có quyền lựa chọn nào khác ngoài cái chết.

 

Người ta vất vả, lăn lộn với cuộc sống, nhưng được cái này thì mất cái kia, được chút tiền thì mất sức khỏe, được chút danh vọng thì có khi lại mất ấm cúng gia đình, thành công nhưng lại thất bại. Hạnh phúc phải chăng là thứ quá xa vời? Vì sự phồn thịnh vật chất cuối cùng cũng không làm cho con người hạnh phúc. Ngay cả con số thống kê cũng nói lên rằng ở những nước phát triển và có đời sống cao tỉ lệ người tự sát, nghiện ngập và bị các bệnh xã hội là cao hơn nhiều so với những nước còn đang phát triển.

 

Chúng ta có thực tế đau buồn đáng thất vọng như vậy của xã hội loài người ngày hôm nay, vì có một điều kinh khủng đã xảy với tổ tiên loài người, họ đã phạm một sai lầm lớn nhất mà đến bây giờ mỗi một con người vẫn còn phải trả giá. Kinh thánh cho chúng ta biết rằng A-đam và Ê-va phạm tội. Tội của họ là gì? Nếu nói cho đơn giản, chỉ là một thái độ muốn gạch bỏ Đức Chúa Trời ra khỏi đời sống mình, thể hiện ra qua hành động không vâng theo Lời Chúa chỉ dạy cho đời sống mình. Kết quả là dẫn đến việc họ vi phạm, vượt giới hạn mà Chúa đã lập ra chính vì sự an toàn và hạnh phúc của chúng ta.

 

Thay vào việc tiếp tục tin cậy Chúa, ở lại vườn và ăn bông trái cây sự sống, thì họ ăn quả từ cây cấm, và bằng hành động đó đã tự chia cắt mình ra khỏi Đức Chúa Trời. Họ đã xử dụng không đúng quyền tự do lựa chọn của mình, đã tin theo điều dối trá của ma quỉ, để đến nỗi đánh mất cả sự sống và phước hạnh.

 

Họ muốn quay lại với sự sống đời đời, với sự sống hạnh phúc, nhưng không còn được nữa, vì lòng họ đã nhiễm điều ác, ôi, giá chi mà họ ăn năn... Nhưng ngay lúc đó họ không ăn năn nổi. Vì bây giờ họ đã trở thành nô lệ của tội lỗi. Họ đã mất đi sự tự do chân thật. Một khi bạn lầm mắc mưu chước của ma quỉ, nó sẽ không bao giờ để cho bạn còn có cơ hội được thoát ra nữa. Thế mới đúng là ma quỉ độc ác.

 

Đức Chúa Trời vẫn giữ trong tay quyền ban sự sống, và quyền xuống phước. Chỉ có con người bây giờ đã trở nên nô lệ cho tội lỗi và họ tự mình thì không thể nào giải thoát mình ra được.

 

Ma quỉ vẫn lừa dối được con người để tiếp tục ảnh hưởng lên quyền quyết định của họ. Bằng mọi sự lầm lạc mà thế gian này đang nghe theo nó và đang thẳng đường xuống địa ngục. Trên đường đi thì tranh giành, khổ cực, lo sợ, và đau ốm bệnh tật. Đến nỗi, những người nào không biết đến buổi ban đầu của nhận loại, không biết đến Đức Chúa Trời, đã phải nhận định rằng “đời là bể khổ”.

 

Cho nên cuộc sống con người muốn được sống, muốn được tự do, và được hạnh phúc thật sự – phải quay về để sống cùng với Đức Chúa Trời và ở dưới sự che chở, dẫn dắt và chúc phước của Ngài. Nhưng, làm sao quay về được, nếu vườn Ê-đen đã có thiên sứ cầm gươm sáng lòa canh giữ. Trên đất này, có ai đủ thánh sạch công bình, đủ công đức việc lành để xứng đáng được Đức Chúa Trời cho quay trở lại chăng?

 

Cảm ơn Đức Chúa Trời thay, Ngài đã có lối thoát cho chúng ta. Đức Chúa Trời đã mở cho loài người một con đường máu để thoát khỏi tội lỗi, đau khổ, bất hạnh, và cái chết. Con đường máu là cách nói chỉ về một lối thoát, mà phải có người hy sinh đổ máu cho người khác được thoát hiểm qua nó. Chỉ có một điều là không phải con người chúng ta đổ máu, mà Con một của Ngài đổ máu. Con đường giải cứu đã đến từ trời, qua sự cứu chuộc bởi sự hy sinh chuộc tội của Chúa Jê-sus.

 

Chúa đến để ta được sống

Giăng 10

10  Kẻ trộm chỉ đến để cướp giết và hủy diệt; còn ta đã đến, hầu cho chiên được sự sống và được sự sống dư dật.

11  Ta là người chăn hiền lành; người chăn hiền lành vì chiên mình phó sự sống mình.

 

Chúa đến để ta được tự do.

Giăng 8:36  Vậy nếu Con buông tha các ngươi, các ngươi sẽ thật được tự do.

 

Giải phóng khỏi xiềng xích của tội lỗi. Giải phóng khỏi bệnh tật, khỏi đau khổ. Giải phóng khỏi sự rủa sả. Giải phóng khỏi cái chết...

 

Chúa Jê-sus có quyền ban phước, vì đã gánh hết mọi sự rủa sả về mình. Ngài có quyền ban sức khỏe và sự chữa lành, ban sự khôn ngoan và thành công, gìn giữ và che chở trong cuộc sống. Tóm lại là Ngài có quyền ban phước cho những con người quay trở lại với Đức Chúa Trời.

 

Ngài đến để phá hủy những công việc của ma quỉ đã kịp làm trong đời sống và xã hội, Ngài đến để chuyển bại thành thắng.

1 Giăng 3:8  Kẻ nào phạm tội là thuộc về ma quỉ; vì ma quỉ phạm tội từ lúc ban đầu. Vả, Con Đức Chúa Trời đã hiện ra để hủy phá công việc của ma quỉ.

Chúa đến để đảm bảo cho chúng ta được hạnh phúc

Giăng 10:10  Kẻ trộm chỉ đến để cướp giết và hủy diệt; còn ta đã đến, hầu cho chiên được sự sống và được sự sống dư dật.

 

Ngày hôm nay những điều đó không phải là ước mơ quá cao vời nữa, vì Chúa đã làm chúng trở thành hiện thực. Ai muốn, đều có thể quay về. Ai muốn, đều có thể đến mà nhận sự sống đời đời cho không! Ai muốn, đều có thể được giải phóng. Ai muốn, đều có thể bắt đầu sống cuộc sống mới, cuộc sống đầy phước hạnh ngay trên đất này, cùng với Đức Chúa Trời.

 

Vì Chúa Jê-sus đã đến không chỉ để chuộc tội, mà Ngài đã sống lại với quyền năng siêu việt để mãi mãi ở cùng và gìn giữ chúng ta trong con đường đời này, từ nay cho đến khi chúng ta về cõi đời đời gặp Chúa.

 

Bạn có nghe tiếng gọi đó không:

Khải huyền 22:17  Thánh Linh và vợ mới cùng nói: Hãy đến! Kẻ nào nghe cũng hãy nói rằng: Hãy đến! Ai khát, khá đến. Kẻ nào muốn, khá nhận lấy nước sự sống cách nhưng không.

 

Nhưng quyền quyết định vẫn thuộc về mỗi cá nhân con người. Ngày hôm nay, Chúa lại khiến cho chúng ta có được sự lựa chọn đầy đủ như buổi sáng thế ban đầu thuở xưa. Hãy chọn sự sống, hầu cho ngươi được sống!

 

Bạn có thể làm được một điều tốt hơn cả A-đam và Ê-va thời xưa. Bạn có thể chọn sự sống. Bạn có thể chọn quay về với Chúa và gắn bó đời mình với Chúa. Từ nay cho đến cả cõi đời đời.

 

Đó là hành động đứng dậy, ăn năn và quay trở về. Ngược lại những điều A-đam và Ê-va đã đem lại cho loài người, khi bạn tiếp nhận Chúa Jê-sus, là bạn đem lại sự sống và phước hạnh cho mình và giúp đem lại sự sống và phước hạnh cho cả gia đình dòng họ mình.

 

Hãy xử dụng quyền của mình cho đúng!

 

Quyền được sống! Quyền được tự do! Quyền được hạnh phúc!

 

Nếu bạn sẵn lòng, xin đừng chần chừ nữa, mà hãy cầu nguyện theo lời cầu nguyện sau đây:

 

Kính lạy Chúa Jê-sus, cuộc sống con đã bị tội lỗi làm cho hư hỏng, nhưng hôm nay con nhận biết rằng Ngài đã đến để cứu chuộc con. Ngài đã chết để chuộc tội cho con trên thập tự giá, và sau đó Ngài đã sống lại, bây giờ Ngài đang chờ đợi con quay về để ban lại cho con quyền lợi ban đầu là được sống, được tự do, và được hạnh phúc trong cuộc sống với Ngài. Xin Chúa hãy tiếp nhận con làm con cái cúa Ngài, xin hãy đến với tấm lòng con và làm Chúa làm Chủ đời sống con.

Con biết rằng Ngài đang lắng nghe và đã nhậm lời cầu xin của con. Và từ ngày hôm nay, con được cứu, con được trở thành con cái của Đức Chúa Trời. Con cảm ơn Chúa và thành tâm cầu nguyện nhân danh Chúa Jê-sus Christ. A-men.

 

Bài viết này ghi lại từ một bài giảng tại Hội thánh Tin lành Mát-xcơ-va. Người giảng: Mục sư Quốc Hùng.

Tinlanh.Ru 2009



© 1999-2017 Tinlanh.Ru