Lời chứng của anh Đào Hồng Thẩm

Thưa bạn đọc quí mến !

Thưa anh chị em trong Chúa JÊSUS CHIRST yêu quí !

Thường mổi năm vào dịp này các quốc gia trên thế giới đều chuẩn bị cho kế hoạch - tiễn năm cũ qua đi và đón năm mới đến, với bao hứa hẹn tốt đẹp. Đặc biệt, đối với con cái Chúa trên khắp hành tinh đều háo hức. Chuẩn bị ngày lể Giáng sinh của CHÚA CỨU THẾ JÊSUS CHIRST với mục đích rao truyền danh của Ngài cho tất cả mọi người đều được biết, và chờ kỳ CHÚA JESUS quay trở lại. Rất hân hạnh tôi là một trong những cơ đốc nhân (hay còn gọi là người con cái Chúa). Nhờ sự dạn dĩ mà Chúa ban cho tôi, với tấm lòng kính sợ Chúa, yêu mến quí bạn đọc, yêu mến anh chị em trong nhà Chúa. Nay nhân dịp này tôi muốn dâng lên Chúa tấm lòng biết ơn chân thành.Vì Chúa đã thương xót cứu vớt tôi, không để tôi xuống địa ngục. Tôi muốn kể về việc Chúa đã cứu tôi như thế nào, cuộc sống của những ngày không có Chúa, và đời sống mới trong CHÚA JÊSUS CHIRST.

Nguyền dâng lên Chúa mọi sự vinh hiển và mọi sự tôn trọng và chỉ một mình Ngài mà thôi. Những mong khi quí bạn đọc chưa có CHÚA JESUS trong đời sống riêng tư của mình, hoặc những người đã tiếp nhận Chúa, nhưng trong cuộc sống còn thiếu vắng niềm vui và phước hạnh của Chúa, biết đâu, qua lời làm chứng này của tôi, sẽ có sự động chạm của Chúa trên tấm lòng quí bạn đọc và anh chị em mà đưa mọi tấm lòng thật sự quay về với Chúa. Và đây cũng là một niềm vui nho nhỏ của riêng tôi. Một món quà đến với anh chị em trong dịp lể này.

Tôi sinh ngày 15 tháng 5 năm 1960. Tôi tự hào vì tôi là người Việt nam, được sinh ra ở một làng nhỏ ven “sông Hồng” trung tâm Hồ Hoàn kiếm cũng không xa lắm, theo đường chim bay. Quê hương tôi và thủ đô yêu quí. Theo cách nói của mọi người là “gần nhà xa ngõ” nghĩa là chỉ cách một con sông ấy.

Vào những năm trước, khi mà ở bên kia sông Hồng và một số xã xung quanh. Đèn điện sáng rực nhưng quê tôi thì chưa, vì mổi năm thường gặp lụt mất vài ba tháng. Vậy nên nguồn ánh sáng vẫn chưa thể có được. Nhưng quê tôi, những đêm trăng sáng đường làng đông vui nhộn nhịp người qua lại, thanh niên tụm năm tụm ba, chuyện trò vui đùa trong những đêm trăng ấy. Còn lại những đêm khác thường quê tôi chìm trong bóng đêm dày đặc, chỉ có ít ánh sáng của đom đóm, bọ bèo, trong lân tinh mà thôi. Nó cũng như nhiều vùng quê khác của đất Việt.

Dân quê tôi chủ yếu là trồng màu. Ngô, khoai, đậu, cà, cải, bẹ và một số hương liệu khác nữa, mà chỉ tiêu nhà nước giao cho. Tôi được học hành, nuôi nấng bởi miền quê ấy. Không giàu cũng không nghèo. Chỉ đủ ăn quanh năm ngô là nhiều đến nổi có thời kỳ, khi mà còn chiến tranh. Dân trong đê nói vui đùa gọi dân của tôi là thứ dân vo gạo bằng rổ vì ăn toàn ngô. Ấy thế mà người dân quê tôi rất khoẻ mạnh. Đặc biệt là thanh niên nam nữ.

Nhưng cứ mỗi mùa xuân thì quê tôi lại vắng thưa người hơn vì thanh niên nam nữ lại lên đường tòng quân, mẹ tôi may mắn còn 5 đứa con (vì mẹ tôi sống nhiều mà con ít). Theo lời bố mẹ tôi kể lại. Thật hạnh phúc, tôi là một trong 5 đứa con ấy. Bố mẹ tôi chỉ theo nghề nông nghiệp, cuộc sống không khá giả gì. Nuôi 5 đứa con ăn học, lớn lên trong gia đình tôi được đi học rồi giúp đỡ bố mẹ những công việt nhỏ như chăn bò cắt cỏ. Tuổi thơ của tôi cũng như bao đứa trẻ khác cùng lứa nghịch ngợm, bướng bỉnh, đánh chưởi nhau như cơm bữa. Rồi những trận đòn roi của bố tôi. Những lươn, trạch đầy mông đít, lưng. Mỗi khi tôi phạm sai lầm, hàng xóm đến mách bảo, ông không kiềm chế được, và cũng là để dạy con, để con phải vâng lời. Những năm tháng ấy, tôi tưởng ở nhà hay bất cứ nơi đâu, người lớn trẻ con đều nơm nớp lo sợ tính mạng. Khi trên bầu trời luôn có máy bay Mỹ với bom, đạn, tên lửa và các thứ khác v.v.. Những ngày đi học chúng tôi thường mang theo mũ rơm để tránh mảnh đạn theo lời bố mẹ và nhà trường. Cuộc sống lúc đó thật thiếu thốn, khổ sở.Vì khẩu hiệu lúc đó là “tất cả vì miền nam ruột thịt.Và tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”. Ban đêm tất cả phải ra hầm ngủ không được ngủ trong nhà vì sợ khi máy bay đến sẽ không kịp ra hầm trú ẩn. Bữa cơm thì lúc đói lúc no, chủ yếu toàn ngô. Giờ nghĩ lại cũng thấy ác liệt. Lúc đó tôi tự hỏi “sao người Việt Nam mình lại khổ như vậy”. Nhưng tôi không có được câu trả lời. Thế rồi năm tôi tròn 18 tuổi, tôi nhập ngũ theo tiếng gọi của tổ quốc ngày 15-5-1978. Được huấn luyện 2 tháng tại bãi dù đất Lục Nam Hà Bắc tháng 7 năm 78 đơn vị tôi được lệnh lên biên giới phía bắc - Lạng Sơn : xây dựng công sự, hầm hào trận địa để chuẩn bị trước tình hình diển biến xấu.Vì lúc đó giữa hai nước Việt Nam - Trung Quốc bất đồng. Đơn vị tôi mang tên sư đoàn 3 sao vàng trung đoàn 2 tiểu đoàn 5 đại đội một bộ binh .

Tôi lúc đó là môt thanh niên khoẻ mạnh, vậy nên được giao một khẩu súng khá to (B-41) Liên Xô, gọi là hoả lực, và được học kĩ càng cách sử dụng, và một số vũ khí khác mà người lính khi ra trận cần biết sử dụng khi cần thiết.

Vào bộ đội những tưởng được suớng hơn, nào ngờ hơn 4 năm trong quân ngũ thật là một cực hình. Một ngày 5 mét hào rộng trên 80 cm dài dưới 60cm sâu 1,2 mét rồi các loại công sự khác. Tuổi mới lớn, tuổi ăn, tuổi ngủ nhưng phải vào khuôn khổ. Thật khó chịu vô cùng. Nhưng phải nghiến răng chịu đựng. Rồi những cuộc hành quân chiến thuật, điều lệnh quân đội v.vv. lăn lộn với những vùng đồi cao. Lạnh giá khi mùa đông cũng chỉ có chiếc áo trấn thủ gọi là 36 đường gian khổ lúc bấy giờ. Ngày 17 tháng 2 năm 79 chiến tranh đã xảy ra, và trong những ngày chiến đấu bảo vệ tổ quốc tôi chứng kiến bao nhiêu cái chết đau thương của cả hai phía Trung Quốc và Việt Nam. Mấy lần tôi thoát chết. Đơn vị tôi còn lại thật ít người. Nhiều người ra đi vĩnh viễn không trở về. Thật là kỳ diệu cho tôi, như có quý nhân phù hộ. Tôi sống sót sau những ngày ác liệt ấy. Tôi chỉ thầm cảm ơn trời phật (lúc đó tôi cũng không biết ĐỨC CHÚA TRỜI cho tôi được sống). Năm tháng qua đi tôi được xuất ngũ về địa phương. Năm 1983 tôi xin vào cơ quan nhà nước. Cơ quan tôi có tên gọi “Công Ty Vận Tải Hàng Hoá - Hà Nội”. Vào cơ quan, môi trường mới tôi cũng thầm mong ước để bằng chúng bạn. Quyết phấn đấu hết mình, vừa thử sức và mong muốn đạt được vị trí nào đó nữa cơ. Cùng những ngành lứa công nhân tôi được kết nạp vào đảng cộng sản Việt Nam niềm mơ ươc của nhiều thanh niên lúc bấy giờ. Có trình độ mà không có đảng thì cũng không phát triển được đó là điều hiển nhiên lúc bấy giờ.

Vào đảng rồi là một đảng viên.Tôi vẫn không tự thay đổi mình được, không bỏ được tật xấu (rượu, chè, thuốc lá .v.v.) rồi nhiều tội khác nữa. Tôi vẫn là một công nhân bình thường - thợ sửa chữa ôtô (ráo mồ hôi hết tiền) nói chung cũng không khác gì. Niềm vui trong cuộc sống thật hiếm hoi, ít ỏi. Rồi tình yêu đến, và tôi đã yêu như bao người con trai khác khi đến tuổi trưởng thành.Thế rồi tình yêu đầu đời không thành, và cũng qua một vài mối tình khác.

Trong năm 1985 tôi đi Nga lao động những mong được đổi đời. 5 năm xa quê hương tiếp theo, tưởng trời tây đất tây cuộc sống mới được thay đổi. Nào ngờ được tiếp xúc nhiều cám dỗ hơn. Tôi lại lao vào nhiều đam mê khác. Học võ, tán gái, rượu vốtka. Ba năm thoáng trôi nhanh. Bạn bè chăm lo đàng hoàng về phép. Còn tôi vẫn tay không. Thật là buồn và tự hận mình kém cỏi. Rồi tôi cũng vay mượn bạn bè và được giúp đỡ của anh em cùng đội lao động. Tôi về thăm nhà theo phép hiệp định. Năm 1988, một tháng về nhà tôi càng uống rượu nhiều hơn, thuốc lá hút nhiều hơn những lúc buồn vui nhưng chẳng giải quyết được gì. Kêt thúc hạn phép tôi quay trở lại Nga, tiếp tục cho hết hợp đồng.

Thật vô nghĩa khi kết thúc 5 năm, kết quả chẳng có gì, buồn và chán nản vô cùng, cầm hộ chiếu, vé máy bay về Việt Nam năm 1990, khi cho bạn bè ở sân bay Seremetrevơ, tôi đã quay ra (cửa VIP) ở lại Mátxcơva. Năm 1991 tôi tổ chức đám cưới và sinh một cháu trai. Cuộc sống bắt đầu có những khó khăn mới cho tới kỳ nước Nga thay đổi chế độ. Cũng như hợp đồng lao động không còn hiệu lực. Người lao động khắp liên bang Nga về nước. Một số đã ở lại sống bằng nghề buôn bán nhỏ. Tôi và vợ con tôi là người trong số ấy.


Tôi cũng như bao người đàn ông Việt Nam khác sống tại Mátxcơva ham chơi cờ bạc rượu chè và những cuộc chơi vô bổ. Cuộc sống không niềm vui, không mục đích, không ngày mai. Thật buồn và chỉ có rượu mới giải sầu được. Tôi là một gã nghiện rượu. Mổi ngày tôi uống một đến hai chai vốtka, thuốc lá một hai bao là chuyện thường, thêm vào đó nhiều khi bỏ bê công việc, vợ con. Năm 1992-1993 bạn tôi mở nhà hàng mời tôi làm việc, lại tiếp xúc với đủ thứ, thức đêm, hôm làm bảo vệ nhà hàng. Rồi làm những việt nhà hàng có. Trong đó có việc mua (bán dâm) cho khách làng chơi - dẫn gái .v.v.. Tôi có rất nhiều địa chỉ của các ông chủ chăn dắt gái mại dâm ở Mátxcơva. Lúc đó lại có đội ngũ bảo kê tây cho nhà hàng bán đầy tội lỗi, việc làm tội lỗi càng chồng chất. Tôi cũng không biết tự giải thoát cho mình bằng cách nào, thật bế tắc. Cho đến ngày nhà hàng đóng cửa. Tôi lại trở về cùng vợ con và cuộc sống thường nhật. Cho đến một ngày chút nữa thì hạnh phúc của vợ chồng tôi bị đổ vỡ, không cứu vãn được. Tôi vẫn không tự thay đổi cuộc sống mình được, để cuộc sống khá hơn. Thật chán ghét cuộc sống.



© 1999-2017 Tinlanh.Ru